BÌNH TÍCH ÁP
Bình tích áp ( pressure tank / accumulator) hay còn gọi là Bình áp máy bơm, bình áp lực nước máy bơm là thiết bị dùng để dự trữ năng lượng dưới dạng áp suất cho hệ thống bơm. Bình tích áp được lắp trong hệ thống để duy trì áp suất ổn định và giảm tần suất bật/tắt máy bơm
Bình tích áp là gì?
Bình tích áp là bình thép chịu áp có màng cao su bên trong, một phía chứa khí nén, phía còn lại chứa nước. Khi bơm chạy, nước được đẩy vào bình và nén khí lại; khi bơm dừng, khí giãn ra đẩy nước trở lại đường ống. Nhờ vậy hệ duy trì được áp lực trong một khoảng thời gian mà bơm không phải khởi động lại.
Trong hệ tăng áp và hệ bơm bù áp, bình tích áp giúp giảm số lần bật tắt bơm, giảm va đập thủy lực và kéo dài tuổi thọ động cơ, rơ-le, contactor. Tại Parolli, danh mục này gồm dòng PRL dung tích 50–500 lít, áp lực làm việc 10 hoặc 16 bar.
Cấu tạo bình tích áp Parolli PRL
Bình tích áp PRL dùng màng dạng khí cầu gắn trực tiếp vào mặt bích, nên nước chỉ nằm trong màng và không tiếp xúc với thành thép. Kết cấu này hạn chế gỉ bên trong bình và giữ nước sạch hơn so với bình dùng màng dạng vách ngăn.- Màng khí cầu: lắp sau khi thân bình đã sơn bảo quản, đảm bảo độ đàn hồi; thay được qua mặt bích khi màng lão hóa.
- Thân bình: thép chịu áp, có chân đế đứng, đặt trực tiếp trên sàn phòng bơm.
- Áp nạp khí xuất xưởng: 2,5 bar hoặc 4,0 bar, chỉnh lại tại công trình theo áp khởi động của bơm.
- Nhiệt độ làm việc: −10 °C đến +99 °C; tùy chọn lắp đồng hồ áp theo yêu cầu.
Các model bình tích áp PRL
Dòng bình tích áp PRL có 5 cỡ dung tích từ 50 đến 500 lít. Model PRL50 có áp lực làm việc tối đa 10 bar; các model từ PRL100 trở lên có hai phiên bản 10 bar và 16 bar để chọn theo áp lực lớn nhất của hệ.| Model | Dung tích | Áp lực tối đa | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| PRL50-10 | 50 L | 10 bar | Hệ tăng áp nhỏ, bơm bù áp |
| PRL100-10/16 | 100 L | 10 / 16 bar | Bơm bù áp, tăng áp tòa nhà |
| PRL200-10/16 | 200 L | 10 / 16 bar | Ø625 × 1.080 mm, cổng 1½" |
| PRL300-10/16 | 300 L | 10 / 16 bar | Tăng áp công suất lớn |
| PRL500-10/16 | 500 L | 10 / 16 bar | Cấp nước nhà máy, tòa nhà cao tầng |
Cách chọn dung tích bình tích áp
Dung tích bình tích áp được chọn sao cho lượng nước bình xả ra giữa hai ngưỡng áp đủ để bơm không khởi động quá số lần cho phép mỗi giờ. Chỉ một phần dung tích bình là nước dùng được; phần này phụ thuộc vào khoảng chênh giữa áp khởi động và áp dừng của bơm. Có thể tính nhanh theo hai bước, với áp lực tính bằng bar (áp kế):- Lượng nước cần xả (Vx): Vx ≈ Q × (60 ÷ Z) ÷ 4, trong đó Q là lưu lượng bơm (lít/phút), Z là số lần khởi động tối đa mỗi giờ của động cơ.
- Dung tích bình (V): V ≈ Vx × (Pdừng + 1) ÷ (Pdừng − Pkhởi động).
Cài đặt áp nạp khí cho bình tích áp
Áp nạp khí của bình nên thấp hơn áp khởi động bơm khoảng 0,2–0,3 bar, đo khi bình đã xả hết nước. Nạp sai áp là nguyên nhân phổ biến nhất khiến bình tích áp "có mà như không".- Áp nạp quá thấp: bình nhận nhiều nước nhưng xả ra ít ở vùng áp làm việc, bơm vẫn bật tắt liên tục, màng bị kéo giãn quá mức.
- Áp nạp quá cao: bình gần như không nhận nước, mất tác dụng tích áp.
- Kiểm tra định kỳ: nên kiểm tra áp nạp 6 tháng một lần. Khí thẩm thấu dần qua màng nên áp nạp giảm theo thời gian.
Lỗi thường gặp khi lắp bình tích áp
Bình tích áp là thiết bị đơn giản nên hay bị lắp đặt qua loa. Các lỗi dưới đây thường gặp khi kiểm tra trạm tăng áp và trạm bơm bù áp.- Chọn áp lực bình thấp hơn áp lớn nhất của hệ: áp lớn nhất gồm áp dừng bơm cộng áp tĩnh; với hệ chữa cháy còn phải xét áp đóng van của bơm chính. Hệ vượt 10 bar phải dùng bản 16 bar.
- Lắp bình xa bơm và công tắc áp lực: tổn thất trên đoạn ống làm công tắc áp đọc sai, bơm bật tắt nhanh. Nên lắp bình gần ống góp đầu đẩy, cùng vị trí với công tắc áp.
- Không có van cách ly và van xả: khi cần kiểm tra áp nạp hay thay màng phải xả cả hệ. Nên lắp van chặn và van xả đáy cho từng bình.
- Lắp bình ở nơi nắng nóng hoặc có nguy cơ đóng băng: nhiệt độ ngoài dải −10 °C đến +99 °C làm màng nhanh lão hóa hoặc nứt.

